Phải chăng thảo dược từ thiên nhiên là hoàn toàn vô hại?

Nói về thảo dược, đại bộ phận sẽ nghĩ nó là an toàn và bổ dưỡng. Các cụ có biết thuốc Paclitaxel, một loại thuốc độc bảng A, dùng trong hóa trị ung thư là làm từ cây thông đỏ hay không? Hay các thuốc đặc trị ung thư như Vinblastin (chữa K tinh hoàn, hạch, nhau, da đầu, mô thận, thần kinh, vú, tử cung, da…) hoặc Vincristin (chữa K ung thư máu, bạch cầu, biểu mô phổi, tử cung, thần kinh…) lại được chiết xuất từ cây dừa cạn hay không? Hay chiết xuất Acetogenine từ cây bình bát (một dạng cây liên quan đến mãng cầu xiêm?) để điều trị ung thư vú? Không có cái cây gì, con gì mà người ta không đem ra nghiên cứu và thử nghiệm với ung thư cả. Kể cả B-17 (hạt đào) kia mà có tác dụng thần dược chống ung thư thì giờ nó đã là thuốc đặc trị cả rồi các cụ ạ.

Em xin trích một bài viết rất hay nói về thảo dược và tương tác thuốc Tây do hai tác giả Ds. Nguyễn Ngọc Lan và Bs. Nguyễn Thượng Chánh để các cụ nâng cao mức độ cảnh giác khi kết hợp giữa TPCN với thuốc tây.

[IMG]

PHẢI CHĂNG THIÊN NHIÊN LÀ VÔ HẠI?

Ngày nay phong trào dùng thuốc thiên nhiên đang bành trướng mạnh mẽ khắp mọi nơi trên thế giới. Phải chăng đây là khuynh hướng trở về nguồn của con người? Tại Canada, trên 50% dân chúng sử dụng thuốc thiên nhiên (herbal medicines, produits naturels). Đây là những loại thuốc được làm từ thực vật, cây cỏ, từ các phần của động vật, côn trùng hoặc từ các loại khoáng chất, v.v…Thuốc thiên nhiên thường được sử dụng để bồi dưỡng sức khỏe, lọc thận, bổ gan, tẩy độc, tạo thêm sinh lực, trợ dương, tăng sức miễn dịch, phòng trị các bệnh thông thường như ho hen cảm cúm, viêm sưng đau nhức khớp xương hoặc để giúp làm tăng hay giảm cân. Đối với người Việt nam chúng ta, hiện tượng này không có gì mới lạ hết. Ngày xưa ở quê nhà, chúng ta cũng đã từng dùng thuốc thiên nhiên rồi. Đó là thuốc Bắc, thuốc Nam, thuốc Ta hay thuốc “Vườn”. Sau 75, danh từ thuốc Dân tộc đã được dùng để chỉ những loại thuốc được sản xuất và bào chế từ cây cỏ ở Vn…

Tại Canada, thuốc thiên nhiên được qui định và chi phối bởi luật Loi et Règlements sur les Aliments et Drogues của Bộ Y Tế Santé Canada. Phần lớn thuốc thiên nhiên được xếp vào trong nhóm thực phẩm bổ sung (supplément alimentaire) và có thể mua dễ dàng không cần toa bác sĩ trong các pharmacies, trong các chợ, trong tiệm Produits naturels, Health food stores hoặc mua qua ngõ bưu điện và Internet…Viết bài nầy, tác giả không có chủ tâm đánh giá thuốc thiên nhiên hay thuốc Tây. Thuốc nào cũng có cái hay cái dở, cái mạnh cái yếu của nó hết!..

Một nhận định sai lầm

Thường tình, ai cũng nghĩ rằng hễ thiên nhiên là vô hại. Các nhà khoa học Tây phương đã cho biết là có một số thuốc thiên nhiên kể cả các loại vitamines, nếu dùng không đúng cách vẫn có thể gây hại cho sức khỏe…Một vài loại thuốc có thể che lấp một cách tạm thời diễn biến thật sự của bệnh trạng và làm sai lạc kết quả các test của phòng thí nghiệm. Chúng cũng có thể làm gia tăng tác dụng của thuốc Tây đến độ gây nguy hiểm cho bệnh nhân. Đôi khi thuốc thiên nhiên cũng có thể hóa giải, làm giảm hay làm mất tác dụng của một loại âu dược nào đó nếu được dùng chung với nhau. Tóm lại, tất cả các phản ứng bất lợi vừa nêu trên đều do sự tương tác (interaction) giữa các món thuốc với nhau mà ra thôi.

Một số thuốc thiên nhiên thông dụng tại hải ngoại

Cây nữ lang (Valeriana officinalis)

Giúp an thần, giảm lo âu bức rức, giảm stress, giảm suy nhược tinh thần, động kinh, giúp tập trung tư tưởng và ngủ ngon…Không nên sử dụng chung với các loại thuốc ngủ hay thuốc an thần (sédatifs) như barbituriques, benzodiazepines (Valium, Librium, Ativan). Cũng không nên uống chung với các thuốc thiên nhiên có tính an thần như Camomille, Kava và Millepertuis vì tính an thần sẽ bị gia tăng gấp bội, bệnh nhân có thể rơi vào trạng thái mê man. Cùng một lý do vừa nêu, không nên uống Valeriane chung với rượu vì sẽ làm tăng tác dụng của alcool. Không nên uống chung cùng lúc với thuốc trị bệnh mất ngủ vì tác dụng của thuốc nầy sẽ tăng.

Cây hồ tiêu rễ (Kava-Kava/ Piper methysticum)

Trị lo âu, an thần…Không nên sử dụng chung với các loại thuốc barbituriques, benzodiazepines, thuốc trị suy nhược tinh thần và thuốc trị bệnh Parkinson. Kava có ảnh hưởng không tốt đối với các loại thuốc gây mê, như nó có thể làm gia tăng tác dụng của thuốc mê Halothane, rất nguy hiểm khi giải phẫu. Không nên uống rượu lúc sử dụng thuốc Kava.

Cây cúc dại (Echinacea sp)

Trị cảm cúm, cảm nhiễm đường hô hấp, tăng cường sức miễn dịch…Không sử dụng Echinacée nếu đang xài các loại thuốc làm giảm sức miễn dịch (immunosuppresseur) như Cyclosporine sau khi được giải phẫu ghép bộ phận. Kỵ các loại thuốc corticostéroides (Prednisone, Decadron), các steroides anabolisants (Winstrol), Amiodarone (Cordarone), Methotrexate (Rheumatrex) và Ketocomazol (Nizoral). Phụ nữ đang mang thai không nên xài Echinacée. Những người nào đang mắc bệnh lao, hoặc các bệnh thuộc tự miễn (auto immune disease) như rheumathoid arthritis, systemic lupus erythomatosus cũng không nên sử dụng Echinacée. Chỉ nên uống trong vòng từ 7 đến 14 ngày mà thôi, không nên uống liên tục trong 8 tuần lễ.

Tỏi (Allium sativum, Garlic)

Trị cảm cúm, tiêu chảy, giúp làm giảm đường lượng trong máu, giảm cholesterol, giảm áp huyết, ngăn ngừa tình trạng xơ cứng động mạch, ngừa các bệnh thuộc về tim, bổ gan và tăng cường sức miễn dịch…Thuốc tỏi có khuynh hướng làm máu loãng. Không nên xài thuốc tỏi cùng lúc với các thuốc kháng đông (anticoagulant) như Warfarin (Coumadin) hoặc với các thuốc có tính chống kết tụ tiểu cầu (antiplaquettaire) như Aspirine vì có nhiều nguy cơ bị xuất huyết. Đối với các thuốc trị bệnh tiểu đường thường được gọi là thuốc giảm đường lượng (hypoglycémiant), cũng không nên dùng chung với thuốc tỏi để tránh tình trạng đường huyết bị kéo xuống quá thấp.

Gừng (Gingembre, Ginger)

Dùng trong trường hợp muốn nôn mửa, say sóng (motion sickness) và ăn không ngon, mất đói…Gừng kéo dài thời gian chảy máu. Tránh dùng gừng chung với các loại thuốc làm loãng máu như Aspirine, Coumadin. Lạm dụng gừng có thể ảnh hưởng đến các thuốc trị bệnh tim và thuốc trị tiểu đường.

Cây cỏ thơm họ cúc (Camomille/ Tanacetum parthenium)

Trị tinh thần căng thẳng, nhức đầu, phong thấp, dị ứng, chóng mặt, đau bụng lúc hành kinh…Không nên uống Camomille chung với các thuốc kháng đông vì sẽ dễ gây xuất huyết. Cũng không nên uống chung với thuốc chống đau nhức làm loãng máu thuộc nhóm anti inflammatoire non stéroidien như Tylénol, Aspirine, Ibuprofene (Advil, Motrin), Celebrex. Phụ nữ đang mang thai tránh dùng Camomille vì có thể làm tử cung co thắt. Không uống chung với thuốc kháng đông Coumadin. Camomille có chứa chất chát tannin có thể ngăn trở việc hấp thụ chất sắt.

Cây cỏ ban (Hypericum perforatum/ St John’s Wort)

Trị suy nhược tinh thần nhẹ, lo âu, mệt mỏi, ăn không biết ngon, mất ngủ và đau nhức các bắp cơ, tăng sinh lực, giúp ổn định tâm tánh trong thời gian tiền kinh nguyệt…Uống chung với các thuốc trị sida, như thuốc Indinavir, sẽ làm giảm tác dụng của loại thuốc diệt siêu vi nầy. Millepertuis cũng ảnh hưởng đến tác dụng của các thuốc trị kinh phong (antiépileptique), thuốc ngừa thai, thuốc làm giảm sức miễn dịch, thuốc chống suy nhược tinh thần (Prozac, Paxil), thuốc chống kết tụ tiểu cầu, thuốc kháng đông (Coumadin), thuốc ngừa sự loại bỏ bộ phận ghép (Cyclosporine), thuốc chống siêu vi agents antirétroviraux (Invirase), thuốc trị bệnh tim Digoxine (Lanoxin) và Théophylline.

Bạch quả (Ginkgo biloba, Yinhsing, Fossil tree, Kew tree, Maiden hair tree)

Giúp máu lưu thông được dễ dàng, trị viêm phế quản, xơ cứng động mạch, cholesterol cao, bồi dưỡng trí nhớ, giảm triệu chứng bệnh Alzheimer, cải thiện tình trạng chóng mặt, giúp gan và túi mật hoạt động tốt…Có thể làm xuất huyết nếu xài chung với thuốc kháng đông hoặc thuốc làm máu loãng như Aspirine, vitamin E, Plavix, Persantine và Ticlid. Tạp chí New England Journal of Medicine có đề cập đến một ca xuất huyết trong mắt sau khi bệnh nhân đã thường xuyên uống Ginkgo biloba và Aspirin trong một thời gian dài. Tránh xài Ginkgo biloba lúc mang thai và lúc cho con bú.

Nhân Sâm (Panax ginseng)

An thần, giảm stress, bồi dưỡng sinh lực, tăng sức miễn dịch, giảm đường máu, giảm cholesterol và trợ dương…Dùng Ginseng chung với thuốc kháng đông có thể gây xuất huyết. Với thuốc trị suy nhược tinh thần Phenelzine (Nardil) sẽ gây nhức đầu, run rẩy. Với thuốc trị bệnh tim Digoxin (Lanoxin) sẽ làm khó đo lường hiệu quả và tác dụng của món thuốc nầy. Cũng không nên uống Ginseng nếu đang trị liệu bằng các thuốc tâm thần (antipsychotiques) và thuốc trị suy nhược tinh thần hay trầm cảm (antidepresseur). Nếu đang dùng thuốc trị bệnh tiểu đường (Diabeta, Diamicron) thì cũng không nên dùng Ginseng cùng một lúc vì đường lượng có thể bị kéo xuống quá nhanh…Lạm dụng Ginseng sẽ có nguy cơ làm tăng áp huyết, bồn chồn, mất ngủ, bị tiêu chảy hoặc da nổi đỏ.

Chi ma hoàng (Ephedra sinica, Ma Huang, Sea Grape, Yellow Horse, Desert Herb)

Trị suyễn, tăng sinh lực, và để giúp làm giảm cân…Có thể dẫn đến những phản ứng bất lợi như ngạt thở, áp huyết tăng cao gây hại cho tim. Sử dụng cùng lúc với thuốc thông mũi (décongestants) có chứa chất Ephedrine như Dristan, Sinutab, Sudafed, Actifed hoặc với các thuốc có Caffeine, bệnh nhân sẽ bị co giật, hôn mê và có thể bị đột quỵ tim.Không nên uống Ephedra trong các trường hợp sau đây: lúc mang thai, lúc cho con bú, khi có bệnh tiểu đường, đang bị bệnh tăng nhãn áp glaucome hoặc đang bị chứng cường giáp trạng (hyperthyroidisme).

Sulfate de glucosamine

Trị đau nhức do thoái hóa khớp (arthrose), bảo vệ sụn khớp…Có người cho rằng Glucosamine có tính làm tăng đường máu? Nếu dùng chung với thuốc Insuline có thể sẽ làm giảm tác dụng của thuốc nầy. Vấn đề trên cũng còn trong vòng tranh cãi giữa các nhà khoa học với nhau. Nên ngưng uống Glucosamine một tuần trước ngày đi thử máu để việc đo đường lượng được chính xác hơn. Không xài Glucosamine đồng thời với thuốc kháng đông Warfarin (Coumadin). Các người nào thường hay bị dị ứng với đồ biển thì không nên uống Glucosamine có hoặc không có phối hợp với Chondroitine vì cả hai chất nầy đều có nguồn gốc từ cá mập.

Đương quy ( Angelica sinensis/ Dong Quai)

Trị mất ngủ, điều kinh, trị đau bụng và giúp giảm thiểu các triệu chứng bất lợi của thời kỳ mãn kinh…Không nên dùng Dong Quai lúc đang mang thai, hoặc lúc có kinh nguyệt quá nhiều. Những người đang bị bệnh tiểu đường cần thận trọng vì Dong Quai có thể làm tăng đường huyết. Với liều lượng cao, Dong Quai làm tăng nhịp tim và làm tăng áp huyết.

Cam thảo (Réglisse, Glycyrrhiza glabra, Licorice, Sweetwood)

Trị bệnh đau dạ dầy, loét bao tử, loét miệng, ho hen, phong thấp, v.v… Dùng cùng lúc với các thuốc lợi tiểu (diurétiques) có thể làm giảm chất potassium trong máu. Không nên uống cùng một lượt với thuốc trị bệnh tim như Lanoxin hoặc với các thuốc làm hạ áp huyết. Tránh dùng Réglisse khi có thai, lúc bị tiểu đường, yếu gan, yếu thận hoặc đang mắc các bệnh chứng về tim mạch hoặc áp huyết cao.

Cây cọ lùn (Saw Palmetto / Serenoa repens, Cabbage Palm, Sabal, Dwarf Palm, Palmier Nain)

Có tính lợi tiểu, và được dùng để trị các bệnh thuộc đường tiết niệu…Saw Palmetto cũng thường được sử dụng để chữa trị truờng hợp tiền liệt tuyến bị triển dưỡng (benign prostatic hypertrophy). Phản ứng phụ của thuốc là có thể làm giảm sự ham muốn tình dục và gây nhức đầu. Nó cũng có thể làm thay đổi tác dụng của các thuốc ngừa thai và của các hormones trị liệu khác. Không nên dùng Saw Palmetto lúc mang thai hoặc trong thời gian cho con bú.

Sơn tra (Hawthorn, Crataegus oxycantha, Aubépine, Mayflower, Maybrush)

Trị hồi hộp, tim đập nhanh, lo âu mất ngủ, giảm các cơn đau thắt ngực bằng cách giảm áp huyết động mạch và giảm cholesterol trong máu…Không nên uống cùng một lúc với các loại thuốc trị bệnh tim như Digoxin (Lanoxin) vì nhịp tim có thể bị giảm nhiều.

Hà thủ ô (Polygonum multiflorum, Radix Polygoni multiflori, Chineese knotweed, Flowery knotweed, Ho shou wu, He shou wu, Zi shou wu, Shou Wu Pian, Fo ti)

Rất phổ biến ở Việt Nam và Bắc Mỹ. Theo Đông y, Hà thủ ô dùng để bồi dưỡng sức khỏe, giữ cho tóc và râu được đen lâu bạc, bổ gan thận huyết, bổ xương, trợ dương…Theo cơ quan y tế của Anh quốc Medecine&Health Care Products Regulatory Agency cho biết, có nhiều khảo cứu nói đến tác dụng độc hại của Hà thủ ô đối với gan như làm vàng da, vàng mắt, nước tiểu xậm màu, ói mửa, đau bụng, biếng ăn và làm cho yếu sức (Batinelli et al 2004, New case of acute hepatitis following consumption of Shou Wu Pian, Ann Inter Med140:E589)

Nước bưởi (Jus de pamplemousse, grapefruit juice)

Món giải khát bổ dưỡng chứa nhiều sinh tố…Có thể tương tác với một số thuốc Tây rất nguy hiểm. Không uống nước bưởi cùng lúc với các thuốc trị cao máu, thuốc hạ cholesterol, thuốc trị nấm, thuốc trị đau thắt ngực hoặc điều hòa nhịp tim và các loại thuốc ngừa sự loại bỏ bộ phận ghép. -> Các cụ nào đang sử dụng thuốc đích ĐẶC BIỆT LƯU Ý NHÉ.

Em tìm trong HDSD bằng tiếng Việt của Tarceva thì không nhắc tới liên quan gì giữa Tarceva và bưởi nhưng rất nhiều lưu ý trên các diễn đàn và lưu ý trên chính website của nhà sản xuất nói về điều này.

[IMG]

—///—

Trong bài viết này, hai tác giả đã nêu lên tình trạng hỗn độn của thị trường TPCN và nêu lên một số cảnh giác về thuốc tại thị trường Canada. Vì phần này dài nên em không cho vào thớt, cụ nào quan tâm thì đọc nguyên gốc tại đây.

Bài viết quá dài nên chia nhỏ ra thành nhiều mục cho các bạn dễ theo dõi:

1. Chuẩn đoán ung thư phổi tại bệnh viện Ung Bướu Hà Nội
2. Các trường hợp điều trị K phổi thành công tại bệnh viện Bạch Mai
3. Hy vọng về phương pháp mới chữa K phổi
4. Tìm hiểu về thuốc điều trị đích cho ung thư phổi
5. Xét nghiệm đột biến gene tại Bệnh viện 108
6. Một số trường hợp điều trị K phổi có hiệu quả với thuốc điều trị đích
7. Ung thư phổi là gì
8. Các dấu hiệu nhận biết ung thư phổi
9. Chữa ung thư phổi bằng thuốc nam – Người thật việc thật
10. Lá đu đủ chữa ung thư phổi bằng cách nào?
11. Kinh nghiệm chữa ung thư phổi bằng lá đu đủ
12. Tác dụng của thuốc Vidatox 30CH trong việc điều trị bệnh ung thư phổi
13. Thực hư thuốc Fucoidan trong điều trị ung thư
14. Thải chất độc cơ thể để khắc phục chán ăn và suy nhược cơ thể khi bị ung thư
15. Melatonin hỗ trợ giấc ngủ cho bệnh nhân ung thư như thế nào?
16. Những lưu ý khi sử dụng thuốc Erlotinib (Tarceva) để tăng hấp thụ, tránh quá liều
17. Những điều cần lưu ý về thực phẩm chức năng Melatonin
18. Chế độ ăn uống cho người bị ung thư phổi như thế nào?
19. Người bị ung thư nên ăn gì và kiêng ăn gì?
20. Ăn gì để bỏ đói tế bào bị ung thư?
21. Bồ công anh có tác dụng điều trị được bệnh ung thư không?
22. Chữa khỏi bệnh ung thư phổi nhờ bài thuốc nam tự chế
23. Bài thuốc nam gia truyền chữa khỏi ung thư phổi của anh Thanh Mai
24. Bài thuốc nam chữa bệnh ung thư của lương y Trần Gia Đạt
25. Sự thật về lương y Nguyễn Bá Nho chữa khỏi bệnh ung thư
26. Các phương pháp chuẩn đoán bệnh ung thư phổi
27. Tác dụng phụ của thuốc Iressa trong điều trị ung thư
28. Sự khác nhau giữa thuốc Iressa và Tarceva trong điều trị ung thư
29. Tình trạng quá tải bệnh nhân tại bệnh viện K Hà Nội
30. Những chỉ dẫn về bệnh ung thư từ bệnh viện JOHN HOPKINS
31. Một số ngộ nhận về bệnh ung thư được bệnh viên Johns Hopkins công bố
32. Sự thật về lương y Đào Kim Long chữa bệnh ung thư bằng thuốc nam
33. Có nên dùng thực dưỡng Ohsawa để điều trị ung thư?
34. Những nguyên nhân chính dẫn đến bệnh ung thư nói chung
35. Các đột biến gen có thể điều trị bằng thuốc Tarceva
36. Các loại thuốc đích được sử dụng trong Ung thư phổi không tế bào nhỏ
37. 7 thảo dược có tác dụng chống hình thành mạch máu giống thuốc Avastin
38. Một số trang web nước ngoài có uy tín về hỗ trợ điều trị bệnh ung thư
39. Các giai đoạn trong điều trị bệnh ung thư phổi
40. Thế nào Ung thư phổi tế bào vẩy và tế bào tuyến?
41. Ung thư phổi tế bào vẩy có chữa khỏi được không?
42. Có nên chữa bệnh ung thư theo đông y
43. Phương pháp mới chữa bệnh ung thư của bác sĩ Hoàng Xuân Ba
44. Các chỉ dẫn chữa bệnh ung thư của bác sĩ Hoàng Xuân Ba
45. Đốt khối u phổi ác tính bằng sóng cao tần
46. Các nhóm thuốc chính điều trị bệnh ung thư phổi
47. Các biểu hiện di căn của bệnh ung thư phổi
48. Phân loại ung thư phổi, giai đoạn và phương pháp điều trị
49. Kinh nghiệm lựa chọn thuốc trong điều trị ung thư phổi
50. Kinh nghiệm lên Sapa mua thuốc nam chữa ung thư
51. Bài thuốc Xác ve sầu và Địa long trong điều trị ung thư phổi
52. 6 loại Đông dược được sử dụng phổ biến nhất trong điều trị ung thư phổi
53. 4 Lý do nên theo phương pháp điều trị ung thư của bác sĩ Hoàng Xuân Ba
54. Nhật ký điều trị bệnh ung thư phổi của Hồ Hữu Thành
55. Emily cô gái 6 năm chiến đấu kiên cường với ung thư phổi
56. Viêm phổi dẫn tới xơ hóa phổi do tác dụng phụ của xạ trị
57. Phương pháp điều trị viêm phổi và xơ hóa phổi do xạ trị
58. Phương pháp Budwig là gì trong điều trị bệnh ung thư
59. Carl O.Helvie là bệnh nhân ung thư phổi sống lâu nhất được báo chí biết đến
60. Tác dụng của hạt mơ và vitamin B17 trong phòng chống bệnh ung thư
61. Cuộc chiến chống ung thư phổi của McQueen
62. Các phát đồ điều trị ung thư phổi điển hình
63. Viêm phổi do xạ trị và xơ hóa phổi
64. Điều trị triệu chứng viêm do xơ hóa phổi
65. Nhật ký 10 ngày ở bệnh viện K
66. Chữa ung thư bằng xạ đen của các lương y dân tộc Mường
67. Bà mế người Mường nức tiếng chữa khỏi hàng trăm ca ung thư
68. Ngăn chặn sự phát triển của Khối u bằng thực phẩm chức năng
69. Cơ chế giảm ho và giảm đau của Terpin Codein trong điều trị ung thư
70. Sử dụng thực phẩm chức năng tăng cường miễn dịch như thế nào cho đúng?
71. Beta Glucan và điều trị viêm phổi do xạ trị
72. Một số lưu ý khi sử dụng thực phẩm chức năng trong khi điều trị bệnh ung thư
73. Những lưu ý khi sử dụng prednisone điều trị viêm phổi do xạ trị
74. Các giai đoạn thử nghiệm thuốc đặc trị của Cơ quan Quản lý Thuốc và Thực phẩm Hoa Kỳ FDA
75. Phải chăng thảo dược từ thiên nhiên là hoàn toàn vô hại?
76. Phương pháp điều trị ung thư phổi giai đoạn di căn não
77. Vitamin D kéo dài sự sống cho bệnh nhân K phổi không tế bào nhỏ
78. Thời điểm nào uống Tarceva thích hợp nhất
79. Dùng thuốc bổ trợ gan Eganin khi dùng Tarceva

Comments (0)

Trả lời

Your email address will not be published. Required fields are marked *